Luận văn kinh tế chính trị - Kinh tế nhà nước

Miễn phí

Tải xuống Đọc tài liệu

28/11/2017 29 17 32 Trang doc

tonystark
MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH một nền kinh
tế nhiều thành phần. Đó một tất yếu khách quan. cấu kinh tế nhiều
thành phần tồn tại không phải do ý muốn chủ quan của nhà nước, tồn tại
phát triển phụ thuộc vào những tiền đề kinh tế, chính trị khách quan của
nền kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế này mà thành phần kinh tế luôn có vai trò vị
trí vận động phát triển theo một xu hướng nhất định. Nhưng xuất phát từ
tính quy luật vốn có của nền kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế này mỗi thành phần
kinh tế luôn vai trò vị trí vận động, phát triển theo một xu hướng nhất
định. Nhưng xuất phát t tính quy luật vốn của nền kinh tế đều vận động
theo hướng đến mục tiêu lợi ích. Nhưng Đảng Nhà nước luôn khẳng định
kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Thực tiễn trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua Đảng Nhà nước đã
nhiều cố gắng củng cố, nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và hiện
nay vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đang từng bước được khẳng định.
Tuy nhiên hiện nay đang rất nhiều ý kiến khác nhau về việc phát
triển thành phần kinh tế này: đổi mới, cổ phần sắp xếp, nâng cao hiệuquả.
vậy trong đề án này tôi tập trung đi vào việc nghiên cứu quan niệm về kinh tế
thị trường, tính tất yếu và nội dung vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong
nền kinh tế nhiều thành phần, vai trò của được thể hiện như thế nào, các
giải pháp để trong thời gian tới tăng ờng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước nước ta. Tôi hi vọng sẽ góp phần nhỏ để mọi người hiểu hơn về
thành phần kinh tế này góp một phần vào việc phát triển kinh tế nhà nước
trở lên vững mạnh.

MỞ ĐẦUNền kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một nền kinhtế nhiều thành phần. Đó là một tất yếu khách quan. Cơ cấu kinh tế nhiềuthành phần tồn tại không phải do ý muốn chủ quan của nhà nước, nó tồn tạivà phát triển phụ thuộc vào những tiền đề kinh tế, chính trị khách quan củanền kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế này mà thành phần kinh tế luôn có vai trò vịtrí và vận động phát triển theo một xu hướng nhất định. Nhưng xuất phát từtính quy luật vốn có của nền kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế này mỗi thành phầnkinh tế luôn có vai trò vị trí và vận động, phát triển theo một xu hướng nhấtđịnh. Nhưng xuất phát từ tính quy luật vốn có của nền kinh tế đều vận độngtheo hướng đến mục tiêu lợi ích. Nhưng Đảng và Nhà nước luôn khẳng địnhkinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.Thực tiễn trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua Đảng và Nhà nước đã cónhiều cố gắng củng cố, nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và hiệnnay vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đang từng bước được khẳng định.Tuy nhiên hiện nay đang có rất nhiều ý kiến khác nhau về việc pháttriển thành phần kinh tế này: đổi mới, cổ phần sắp xếp, nâng cao hiệuquả. Vìvậy trong đề án này tôi tập trung đi vào việc nghiên cứu quan niệm về kinh tếthị trường, tính tất yếu và nội dung vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trongnền kinh tế nhiều thành phần, vai trò của nó được thể hiện như thế nào, cácgiải pháp để trong thời gian tới tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhànước ở nước ta. Tôi hi vọng nó sẽ góp phần nhỏ để mọi người hiểu hơn vềthành phần kinh tế này và góp một phần vào việc phát triển kinh tế nhà nướctrở lên vững mạnh. CHƯƠNG IQUAN NIỆM CHUNG VỀ KINH TẾ NHÀ NƯỚC (KTNN)1. Quá trình hình thành kinh tế nhà nướcMỗi nhà nước đều có chức năng kinh tế nhất định và chức năng nàyđược thông qua các mức độ khác nhau tuỳ từng giai đoạn phát triển. Ở bất kìnước nào kém phát triển hay phát triển chức năng của kinh tế nhà nước vẫngiữ vai trò chủ đạo.Ở nước ta sau khi giải phóng (1954) và thống nhất đất nước (1975)trong quá trình xây dựng CNXH do nhận thức đơn giản phiến diện nên đãđồng nhất giữa sở hữu nhà nước với sở hữu XHCN. Chúng ta coi kinh tế quốcdoanh là chủ yếu bó hẹp phạm vi xí nghiệp quốc doanh, thành lập xí nghiệpquốc doanh ở mọi lĩnh vực. Đặc biệt là vấn đề quản lý: theo kiểu tập trungquan liêu, theo kế hoạch định trước theo kiểu lỗ thì được bù, lãi thì nộp ngânsách. Nó đã tập trung mọi nguồn lực để đáp ứng yêu cầu giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước (1954-1975). Song khi đất nước giải phóng đã bộclộ nhiều nhược điểm căn bản làm thui chột tính năng động, sáng tạo của cácxí nghiệp, đặc biệt là thiếu một môi trường kinh doanh. Số lượng các xínghiệp quốc doanh quá nhiều, dàn trải, chồng chéo về cơ chế quản lý, ngànhnghề, kĩ thuật lạc hậu, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, nhiều doanhnghiệp thua lỗ triền miên, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầmtrọng.Trước tình hình đó Đại hội Đảng toàn quốc lần VI (12-1986) đã đề rachủ trương đổi mới nền kinh tế một cách toàn diện, chuyển dịch sang kinh tếthị trường đinh hướng XHCN. Lý luận trong quá trình đi lên CNXH có thayđổi căn bản: sự thừa nhận tồn tại của 5 thành phần kinh tế, kinh tế quốcdoanh giữ vai trò chủ đạo và lúc này vai trò của kinh tế nhà nước cũng cónhiều đổi mới. Đến các đại hội Đảng khác thì chúng ta vẫn tiếp tục khẳngđịnh vai trò quan trọng, then chốt của KTNN trong toàn nền kinh tế quốc dân.2. Quan niệm về Kinh tế nhà nước2.1. Khái niệm về kinh tế nhà nướcKinh tế nhà nước là loại hình kinh tế do nhà nước nắm giữ bao gồmquyền sở hữu, quyền tổ chức, chi phối hoạt động theo những hướng đã định.Kinh tế nhà nước được thể hiện dưới những hình thức nhất định: doanhnghiệp nhà nước, ngân hàng nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia, hệ thống bảo hiểm. Như vậy kinh tế nhà nước có nhiều bộ phận hợp thành, và tất cả các bộphận đều thuộc quyền sở hữu của nhà nước.2.2. Các bộ phận hợp thành và chức năng của từng bộ phậna. Doanh nghiệp nhà nước: "là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tưvốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoạt động côngích, nhằm thực hiện những mục tiêu đã định". Như vậy doanh nghiệp nhànước có 2 loại: Một là, các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận, hailà: các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích xã hội. Nếu loại doanh nghiệpthuộc loại 1 thì hoạt động với mục đích ổn định chính trị và chủ yếu còndoanh nghiệp thuộc loại 2 thì lấy mục đích lợi nhụân là chủ yếu tuy nhiênphải chấp hành pháp luật. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của loại 1 là: quốcphòng an ninh, tài chính, y tế, văn hoá, giáo dục còn doanh nghiệp thuộc loại2 là hoạt động trên tất cả các ngành, lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả. Vì vậymỗi doanh nghiệp có chức năng và đặc thù về cơ chế quản lý.b) Ngân sách nhà nước là một bộ phận của KTNN, thực hiện chức năngthu, chi ngân sách, và có tác dụng điều chỉnh, quản lý, kiểm soát các hoạtđộng của KTNN. Doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác,c) Ngân hàng nhà nước: là một bộ phận của KTNN nhằm đảm bảo choKTNN, kinh tế quốc dân hoạt động bình thường trong mọi tình huống. Cácquỹ dự trữ quốc gia dùng lực lượng vật chât để điều tiết quản lý bình ổn giácả, đảm bảo cho tình hình kinh tế - xã hội chung.d) Hệ thống bảo hiểm: là một bộ phận không thể thiếu được của kinh tếthị trường có sự quản lý của nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện chế độ bảohiểm do nhà nước quy định phục vụ cho kinh tế nhà nước và các thành phầnkinh tế khác.Các bộ phận cấu thành của KTNN có chức năng nhiệm vụ cụ thể làkhác nhau, nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau, nhiệm vụ cụ thể là khácnhau, nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau trong một hệ thống kinh tế nhànước và các thành phần kinh tế khác.Các bộ phận cấu thành của KTNN có chức năng, nhiêm vụ cụ thể làkhác nhau, nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau trong một hệ thống kinh tếnhà nước và hoạt động theo một thể chế được nhà nước quy định thống nhất.

Hoạt động gần đây

Thành viên năng động