Đề tài thực tập - tăng cường quản lý tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển công nghệ Đông Á

Miễn phí

Tải xuống Đọc tài liệu

17/11/2017 14 4 95 Trang doc

Khoa kk
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
MỞ ĐẦU
Mối quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người mua, người bán, với ngân ch
phản ánh quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thường xuyên phát sinh các nghiệp vụ
thanh toán. vậy, người quản không chỉ quan tâm tới doanh thu, chi phí, lợi nhuận, cái
họ phải thường thường xuyên nắm bắt chính tình hình thanh toán. Tình hình tài chính
của doanh nghiệp phản ánh việc làm ăn hiệu quả hay không của doanh nghiệp.Phải xem
xét tài chính để thể tham gia kết các hợp đồng đủ khả năng thanh toán đảm bảo an
toàn hiệu quả cho doanh nghiệp.Nghiệp vụ thanh toán xảy ra cả trong quá trình mua
hàng và quá trình tiêu thụ, có liên quan mật thiết với các nghiệp vụ quỹ nghiệp vụ tạo
vốn. Như vậy, thể nói các nghiệp vụ thanh toánmột ý nghĩa cùng quan trọng trong
hoạt động của doanh nghiệp, nó góp phần duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Để quản một cách có hiệu quả tốt nhất đối với các hoạt động của doanh nghiệp
nói riêng, SX-kinh doanh hay dịch vụ nền kinh tế quốc dân của 1 nước nói chung
đều cần phải sử dụng các công cụ khác quản lý khác nhau trong đó có kế toán.
Trong những năm gần đây hòa cùng với quá trình đổi mới đi nên của đất nước, công
tác hạch toán kế toán cũng đã sự đổi mới tương ứng để sự phù hợp kịp thời với các
yêu cầu của nền kinh tế thị trường, phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán quốc tế,
đồng thời phù hợp với đặc điểm, yêu cầu trình độ quản kinh tế nước ta. Sau nhiều lần
được sửa đổi, đến ngày 01-11-1995 theo quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT của Bộ trưởng
Bộ tài chính, đã chính thức ban hành chế độ kế toán DN.Đây một bước đổi mới đánh dấu
sự thay đổi mới đánh dấu sự thay đổi toàn diện, triệt để hệ thống kế toán Việt Nam.
Sau quá trình học tập nghiên cứu ở trường để trang bị các kiến thức cơ bản đặc
biệt là sau quá trình thực tập tại phòng kế toán của công ty cổ phần đầu tư và phát triển công
nghệ EAST-ASIAN, tôi đã chọn đ tài Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với người
bán, khách hàng Nhà nước với việc tăng cường quản tài chính tại công ty cổ phần
đầu phát triển công nghệ Đông Á”. Trong đề tài này tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về
các nghiệp vụ thanh toán, so sánh thực tế hạch toán tại công ty với thuyết được học, với
chế độ tài chính hiện hành Việt Nam đồng thời tìm hiểu thêm về hạch toán các nghiệp vụ
thanh toán theo chế độ kế toán quốc tế. Tham vọng của tôi đặt ra là thông qua các nghiệp vụ
thanh toán để cái nhìn tổng quát nhất về công tác kế toán tại công ty, điều này xuất phát
từ đặc điểm tổ chức kế toán tại công ty ASIAN. Tuy nhiên do điều kiện không cho phép nên
tôi chỉ đi sâu tìm hiểu một số nghiệp vụ thanh toán đã nêu trong tên đề tài. Như vậy chuyên
đề thực tập này tôi sẽ tập chung vào bốn khía cạnh là :
- Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với nhà cung cấp (người bán).
- Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với người mua.
- Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với Nhà nước.
- Tăng cường quản lý tài chính tại công ty EAST-ASIAN.
Để thực hiện mục tiêu đặt ra, bài viết của tôi chia làm ba phần chính :
Phần I : sở luận của hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với người bán, khách
hàng, nhà nước trong doanh nghiệp.
Phần II : Thực trạng hạch toán nghiệp vụ thanh toán với người bán, với khách hàng
và nhà nước ở công ty EAST-ASIAN.
Phần III : Phương hướng hoàn thiện hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với người
bán, khách hàng và nhà nước ở công ty EAST-ASIAN.
0
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HẠCH TOÁN CÁC NGHIỆP VỤ THANH TOÁN VỚI
NGƯỜI BÁN, KHÁCH HÀNG, NHÀ NƯỚC TRONG DOANH NGHIỆP.
I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC NGHIỆP VỤ THANH TOÁN.
1- Khái niệm :
Quan hệ thanh toán được hiểu một quan hệ kinh doanh xảy ra khi doanh nghiệp quan
hệ mua bán sự trao đổi về một khoản vay nợ tiền vốn cho kinh doanh. Mọi quan hệ
thanh toán đều tồn tại trong sự cam kết vay nợ giữa chủ nợ con nợ về một khoản tiền
theo điều khoản đã qui định có hiệu lực trong thời hạn cho vay, nợ.
Theo đó các nghiệp vụ thanh toán có thể chia làm 2 loại :
Một là, các nghiệp vụ dùng tiền, hiện vật để giải quyết các nghiệp vụ công nợ phát sinh.
Hai là, các nghiệp vụ bù trừ công nợ.
2- Đặc điểm của các nghiệp vụ thanh toán.
- Các nghiệp vụ thanh toán có liên quan đến nhiều đối tượng.
- Các nghiệp vụ này phát sinh nhiều, thường xuyên yêu cầu phải theo dõi chi tiết theo
từng đối tượng thanh toán.
- Việc thanh toán ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của doanh nghiệp nên thường
các quy định rất chặt chẽ trong thanh toán, vậy cần sự giám sát, quản thường
xuyên để các quy tắc được tôn trọng.
- Các nghiệp vụ thanh toán phát sinh cả quá trình mua vật tư, hàng hoá đầu vào quá
trình tiêu thụ. Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì tham gia vào toàn bộ
quá trình kinh doanh (mua hàng và bán hàng).
3- Quan hệ thanh toán với công tác quản lý tài chính.
Quan hệ thanh toán liên hệ mật thiết với dòng tiền vào, ra trong kỳ kinh doanh, do đó
ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của đơn vị. vậy, tổ chức quản tốt quan hệ
thanh toán cũng nghĩa làm tốt công tác tài chính tại doanh nghiệp. Việc đảm bảo cho
hoạt động thanh toán được thực hiện một cách linh hoạt, hợp đạt hiệu quả cao sẽ góp
phần đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, đồng thời tận dụng được nguồn tài trợ
vốn khác nhau. Do đó, cần phải kiểm soát các quan hệ kinh tế này.
Với chức năng thông tin kiểm tra, hạch toán kế toán giúp cho doanh nghiệp
được các thông tin cụ thể về số nợ, thời gian nợ tình hình thanh toán với từng đối tượng
trong từng khoản phải thu, phải trả. Hơn thế nữa, với các số liệu kế toán, nhà quản lý sẽ biết
được khả năng thanh toán đối với các khoản phải trả cũng như khả năng thu hồi các khoản
phải thu. Từ đó doanh nghiệp sẽ những đối sách thu nợ, trả nợ kịp thời nhằm đảm bảo
các khoản công nợ sẽ được thanh toán đầy đủ, góp phần duy trì phát triển mối quan hệ
kinh doanh tốt với bạn hàng, đồng thời nâng cao hiệu quả quản tài chính của doanh
nghiệp.
Bên cạnh đó cũng thể khẳng định thêm rằng hạch toán kế toán công cụ quản
duy nhất đối với các nghịêp vụ thanh toán. Bởi vì, khác với một số phần hành như tiền mặt,
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
vật tư, hàng hoá - hiện hữu trong két, trong kho của doanh nghiệp, sự tồn tại của các nghiệp
vụ thanh toán phát sinh chỉ được biểu hiện duy nhất trên chứng từ, sổ sách.
4- Phân loại các nghiệp vụ thanh toán :
Có thể phân loại các nghiệp vụ thanh toán theo nhiều tiêu thức khác nhau như :
Căn cứ vào đặc điểm của hoạt động thanh toán, các nghiệp vụ thanh toán được chia
làm hai loại :
+ Thanh toán các khoản phải thu
+ Thanh toán các khoản phải trả
Theo quan hệ đối với doanh nghiệp : thanh toán bên trong doanh nghiệp (thanh toán
tạm ứng, thanh toán lương…) và thanh toán với bên ngoài (thanh toán với nhà cung cấp, với
khách hàng…).
Theo thời gian : thanh toán thường xuyên hoặc định kỳ.
Nhưng thông thường người ta thường phân loại các nghiệp vụ thanh toán theo đối
tượng, theo tiêu thức này thì có các nghiệp vụ thanh toán sau :
-Thanh toán với người bán
-Thanh toán với khách hàng
-Thanh toán tạm ứng
- Thanh toán với nhà nước
Các nghiệp vụ thế chấp, ký cược, ký quỹ
Các nghiệp vụ thanh toán khác
Trong phạm vi chuyên đề này, tôi sẽ trình bày các nghiệp vụ thanh toán với người
bán, với khách hàng và với Nhà nước.
5- Một số phương thức thanh toán phổ biến ở Việt Nam hiện nay.
* Thanh toán bằng tiền mặt.
Thanh toán bằng tiền mặt bao gồm các loại hình thanh toán như : thanh toán bằng
tiền Việt Nam, trái phiếu ngân hàng, bằng ngoại tệ các loại các loại giấy tờgiá trị như
tiền. Khi nhận được vật tư, hàng hoá, dịch vụ thì n mua xuất tiền mặt quỹ để trả trực
tiếp cho người bán. Hình thức thanh toán này trên thực tế chỉ phù hợp các loại hình giao
dịch với số lượng nhỏ đơn giản, bởi với các khoản mua giá trị lớn việc thanh toán
trở nên phức tạp kém an toàn. Thông thường hình thức này được áp dụng trong thanh
toán với công nhân viên, với các nhà cung cấp nhỏ, lẻ…
* Thanh toán không dùng tiền mặt.
Đây hình thức thanh toán được thực hiện bằng cách tính chuyển tài khoản hoặc
thanh toán bù trừ qua các đơn vị trung gian là ngân hàng. Các hình thức cụ thể bao gồm :
Thanh toán bằng Séc.
Séc chứng từ thanh toán do chủ tài khoản lập trên mẫu in sẵn đặc biệt của ngân
hàng, yêu cầu ngân hàng tính tiền từ tài khoản của mình trả cho đơn vị được hưởng tên
trên séc. Đơn vị phát hành séc hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc sử dụng séc. Séc chỉ phát
hành khi tài khoản ở ngân hàng có số dư.
Séc thanh toán gồm có séc chuyển khoản, séc bảo chi ,séc tiền mặt và séc định mức.
2

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp MỞ ĐẦU Mối quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người mua, người bán, với ngân sáchphản ánh quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thường xuyên phát sinh các nghiệp vụthanh toán. Vì vậy, người quản lý không chỉ quan tâm tới doanh thu, chi phí, lợi nhuận, cáimà họ phải thường thường xuyên nắm bắt chính là tình hình thanh toán. Tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp phản ánh việc làm ăn có hiệu quả hay không của doanh nghiệp.Phải xemxét tài chính để có thể tham gia ký kết các hợp đồng đủ khả năng thanh toán đảm bảo antoàn và hiệu quả cho doanh nghiệp.Nghiệp vụ thanh toán xảy ra ở cả trong quá trình muahàng và quá trình tiêu thụ, nó có liên quan mật thiết với các nghiệp vụ quỹ và nghiệp vụ tạovốn. Như vậy, có thể nói các nghiệp vụ thanh toán có một ý nghĩa vô cùng quan trọng tronghoạt động của doanh nghiệp, nó góp phần duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để quản lý một cách có hiệu quả và tốt nhất đối với các hoạt động của doanh nghiệpnói riêng, dù là SX-kinh doanh hay dịch vụ và nền kinh tế quốc dân của 1 nước nói chungđều cần phải sử dụng các công cụ khác quản lý khác nhau trong đó có kế toán.Trong những năm gần đây hòa cùng với quá trình đổi mới đi nên của đất nước, côngtác hạch toán kế toán cũng đã có sự đổi mới tương ứng để có sự phù hợp kịp thời với cácyêu cầu của nền kinh tế thị trường, phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán quốc tế,đồng thời phù hợp với đặc điểm, yêu cầu trình độ quản lý kinh tế ở nước ta. Sau nhiều lầnđược sửa đổi, đến ngày 01-11-1995 theo quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT của Bộ trưởngBộ tài chính, đã chính thức ban hành chế độ kế toán DN.Đây là một bước đổi mới đánh dấusự thay đổi mới đánh dấu sự thay đổi toàn diện, triệt để hệ thống kế toán Việt Nam. Sau quá trình học tập và nghiên cứu ở trường để trang bị các kiến thức cơ bản và đặcbiệt là sau quá trình thực tập tại phòng kế toán của công ty cổ phần đầu tư và phát triển côngnghệ EAST-ASIAN, tôi đã chọn đề tài “Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với ngườibán, khách hàng và Nhà nước với việc tăng cường quản lý tài chính tại công ty cổ phầnđầu tư và phát triển công nghệ Đông Á”. Trong đề tài này tôi muốn tìm hiểu sâu hơn vềcác nghiệp vụ thanh toán, so sánh thực tế hạch toán tại công ty với lý thuyết được học, vớichế độ tài chính hiện hành ở Việt Nam đồng thời tìm hiểu thêm về hạch toán các nghiệp vụthanh toán theo chế độ kế toán quốc tế. Tham vọng của tôi đặt ra là thông qua các nghiệp vụthanh toán để có cái nhìn tổng quát nhất về công tác kế toán tại công ty, điều này xuất pháttừ đặc điểm tổ chức kế toán tại công ty ASIAN. Tuy nhiên do điều kiện không cho phép nêntôi chỉ đi sâu tìm hiểu một số nghiệp vụ thanh toán đã nêu trong tên đề tài. Như vậy chuyênđề thực tập này tôi sẽ tập chung vào bốn khía cạnh là : - Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với nhà cung cấp (người bán). - Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với người mua. - Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với Nhà nước. - Tăng cường quản lý tài chính tại công ty EAST-ASIAN. Để thực hiện mục tiêu đặt ra, bài viết của tôi chia làm ba phần chính : Phần I : Cơ sở lý luận của hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với người bán, kháchhàng, nhà nước trong doanh nghiệp.Phần II : Thực trạng hạch toán nghiệp vụ thanh toán với người bán, với khách hàngvà nhà nước ở công ty EAST-ASIAN.Phần III : Phương hướng hoàn thiện hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với ngườibán, khách hàng và nhà nước ở công ty EAST-ASIAN. 0 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp PHẦN ICƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HẠCH TOÁN CÁC NGHIỆP VỤ THANH TOÁN VỚINGƯỜI BÁN, KHÁCH HÀNG, NHÀ NƯỚC TRONG DOANH NGHIỆP.I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC NGHIỆP VỤ THANH TOÁN. 1- Khái niệm : Quan hệ thanh toán được hiểu là một quan hệ kinh doanh xảy ra khi doanh nghiệp có quanhệ mua bán và có sự trao đổi về một khoản vay nợ tiền vốn cho kinh doanh. Mọi quan hệthanh toán đều tồn tại trong sự cam kết vay nợ giữa chủ nợ và con nợ về một khoản tiềntheo điều khoản đã qui định có hiệu lực trong thời hạn cho vay, nợ. Theo đó các nghiệp vụ thanh toán có thể chia làm 2 loại : Một là, các nghiệp vụ dùng tiền, hiện vật để giải quyết các nghiệp vụ công nợ phát sinh. Hai là, các nghiệp vụ bù trừ công nợ. 2- Đặc điểm của các nghiệp vụ thanh toán. - Các nghiệp vụ thanh toán có liên quan đến nhiều đối tượng. - Các nghiệp vụ này phát sinh nhiều, thường xuyên và yêu cầu phải theo dõi chi tiết theotừng đối tượng thanh toán. - Việc thanh toán ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của doanh nghiệp nên thường cócác quy định rất chặt chẽ trong thanh toán, vì vậy cần có sự giám sát, quản lý thườngxuyên để các quy tắc được tôn trọng. - Các nghiệp vụ thanh toán phát sinh ở cả quá trình mua vật tư, hàng hoá đầu vào và quátrình tiêu thụ. Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì nó tham gia vào toàn bộquá trình kinh doanh (mua hàng và bán hàng). 3- Quan hệ thanh toán với công tác quản lý tài chính. Quan hệ thanh toán liên hệ mật thiết với dòng tiền vào, ra trong kỳ kinh doanh, do đónó có ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của đơn vị. Vì vậy, tổ chức quản lý tốt quan hệthanh toán cũng có nghĩa là làm tốt công tác tài chính tại doanh nghiệp. Việc đảm bảo chohoạt động thanh toán được thực hiện một cách linh hoạt, hợp lý và đạt hiệu quả cao sẽ gópphần đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, đồng thời tận dụng được nguồn tài trợvốn khác nhau. Do đó, cần phải kiểm soát các quan hệ kinh tế này. Với chức năng thông tin và kiểm tra, hạch toán kế toán giúp cho doanh nghiệp cóđược các thông tin cụ thể về số nợ, thời gian nợ và tình hình thanh toán với từng đối tượngtrong từng khoản phải thu, phải trả. Hơn thế nữa, với các số liệu kế toán, nhà quản lý sẽ biếtđược khả năng thanh toán đối với các khoản phải trả cũng như khả năng thu hồi các khoảnphải thu. Từ đó doanh nghiệp sẽ có những đối sách thu nợ, trả nợ kịp thời nhằm đảm bảocác khoản công nợ sẽ được thanh toán đầy đủ, góp phần duy trì và phát triển mối quan hệkinh doanh tốt với bạn hàng, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của doanhnghiệp. Bên cạnh đó cũng có thể khẳng định thêm rằng hạch toán kế toán là công cụ quản lýduy nhất đối với các nghịêp vụ thanh toán. Bởi vì, khác với một số phần hành như tiền mặt,1 Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp vật tư, hàng hoá - hiện hữu trong két, trong kho của doanh nghiệp, sự tồn tại của các nghiệpvụ thanh toán phát sinh chỉ được biểu hiện duy nhất trên chứng từ, sổ sách. 4- Phân loại các nghiệp vụ thanh toán : Có thể phân loại các nghiệp vụ thanh toán theo nhiều tiêu thức khác nhau như : Căn cứ vào đặc điểm của hoạt động thanh toán, các nghiệp vụ thanh toán được chialàm hai loại : + Thanh toán các khoản phải thu+ Thanh toán các khoản phải trảTheo quan hệ đối với doanh nghiệp : thanh toán bên trong doanh nghiệp (thanh toántạm ứng, thanh toán lương…) và thanh toán với bên ngoài (thanh toán với nhà cung cấp, vớikhách hàng…). Theo thời gian : thanh toán thường xuyên hoặc định kỳ.Nhưng thông thường người ta thường phân loại các nghiệp vụ thanh toán theo đốitượng, theo tiêu thức này thì có các nghiệp vụ thanh toán sau : -Thanh toán với người bán-Thanh toán với khách hàng-Thanh toán tạm ứng- Thanh toán với nhà nướcCác nghiệp vụ thế chấp, ký cược, ký quỹCác nghiệp vụ thanh toán khácTrong phạm vi chuyên đề này, tôi sẽ trình bày các nghiệp vụ thanh toán với ngườibán, với khách hàng và với Nhà nước. 5- Một số phương thức thanh toán phổ biến ở Việt Nam hiện nay. * Thanh toán bằng tiền mặt. Thanh toán bằng tiền mặt bao gồm các loại hình thanh toán như : thanh toán bằngtiền Việt Nam, trái phiếu ngân hàng, bằng ngoại tệ các loại và các loại giấy tờ có giá trị nhưtiền. Khi nhận được vật tư, hàng hoá, dịch vụ thì bên mua xuất tiền mặt ở quỹ để trả trựctiếp cho người bán. Hình thức thanh toán này trên thực tế chỉ phù hợp các loại hình giaodịch với số lượng nhỏ và đơn giản, bởi vì với các khoản mua có giá trị lớn việc thanh toántrở nên phức tạp và kém an toàn. Thông thường hình thức này được áp dụng trong thanhtoán với công nhân viên, với các nhà cung cấp nhỏ, lẻ…* Thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là hình thức thanh toán được thực hiện bằng cách tính chuyển tài khoản hoặcthanh toán bù trừ qua các đơn vị trung gian là ngân hàng. Các hình thức cụ thể bao gồm : Thanh toán bằng Séc. Séc là chứng từ thanh toán do chủ tài khoản lập trên mẫu in sẵn đặc biệt của ngânhàng, yêu cầu ngân hàng tính tiền từ tài khoản của mình trả cho đơn vị được hưởng có têntrên séc. Đơn vị phát hành séc hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc sử dụng séc. Séc chỉ pháthành khi tài khoản ở ngân hàng có số dư. Séc thanh toán gồm có séc chuyển khoản, séc bảo chi ,séc tiền mặt và séc định mức. 2

Hoạt động gần đây

Thành viên năng động